Cách Cầu Nguyện Phật Cần Thuộc Nằm Lòng, Ý Nghĩa Cầu Nguyện Trong Đạo Phật

Trong đạo Phật, cầu nguyện là một pháp môn tu tập của người Phật tử. Vậy cầu nguyện là gì, bản chất và ý nghĩa của việc cầu nguyện ra sao? Mời bạn đọc tham khảo trong bài viết dưới đây.




Cầu nguyện là gì?

Thuật ngữ Cầu nguyện là thể hiện các ước mơ, niềm hy vọng của con người về đời sống hiện thực hay lý tưởng. Trong Phật giáo, các từ ngữ "cầu nguyện," "cầu xin" hay "ước nguyện" được hiểu đồng nghĩa với thuật ngữ "pràrthanà" (Sanskrit) hay "patthanà" (Pali). Pràrthanà bắt nguồn từ gốc "pra-arth" có nghĩa là ước nguyện, ước muốn, mong cầu, cầu xin.

Bạn đang xem: Cách Cầu Nguyện Phật Cần Thuộc Nằm Lòng, Ý Nghĩa Cầu Nguyện Trong Đạo Phật

Theo Sư Phụ Thích Trúc Thái Minh: “Cầu nguyện là cầu mong và ước nguyện. Ta gửi điều cầu mong và ước nguyện của chúng ta đến với các đấng thiêng liêng mà ta tin tưởng, mong được các đấng ấy cứu độ cho, giúp đỡ cho, hộ trì cho. Tôn giáo nào thì cầu với giáo chủ của tôn giáo ấy, đấng thiêng liêng của tôn giáo đó. Tín ngưỡng nào cũng thế, cầu với những vị họ tin tưởng”.

Thực hành cầu nguyện là một nhu cầu tinh thần của con người, một nhu cầu chính đáng. Cầu nguyện giúp con người giải tỏa các ức chế tâm lý do áp lực của hoàn cảnh, của thất vọng trong tình cảm, những bức xúc trong các mối quan hệ xã hội.

Cầu nguyện còn thể hiện các ước mơ, niềm hy vọng của con người về đời sống hiện thực hay lý tưởng, dù sao cầu nguyện vẫn là một biểu hiện của thiện tâm, nghĩa là khi một người chấp tay, cúi đầu trước bàn thờ Phật, Thánh, lòng họ trở nên khiêm hạ, cái ” Ta” trở nên nhỏ bé, lương tâm thổi dậy và tâm hồn họ được bình hòa.

Xét theo ý nghĩa thông tục, cầu nguyện là một biểu hiện lòng nhớ ơn, đền ơn đáp nghĩa đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ, người thân… một biểu hiện của tình thương yêu, quan tâm, lo lắng đến nhau như các cầu nguyện: cầu siêu, cầu an, sám hối … 4 hình thức của cầu nguyện bao gồm:

Cầu siêu: Cầu siêu là cầu nguyện Tam bảo phù hộ cho linh hồn đã mất được nhẹ nhàng siêu thoát ở thế giới bên kia cầu được sinh về cõi cực lạc của Đức Phật A Di Đà.

Cầu siêu là cầu nguyện cho ông bà, cha mẹ, thân quyến đã qua đời được siêu thoát, được an lành thế giới bên kia. Như vậy cầu siêu là biểu lộ sự quan tâm, lo lắng, sự thương yêu giúp đỡ cho người thân của mình. Sự quan tâm đối với người đã chết không thể làm gì khác hơn là cầu nguyện.

Cầu an: Là cầu nguyện cho người thân của mình hoặc chính bản thân mình được an lành, vượt qua các tai ương hoạn nạn.

Cầu nguyện cho người khác được bình an thể hiện tính tích cực của từ bi, vị tha, do đó tạo nên “đức độ”. Tâm ta càng xu hướng về vô ngã vị tha thì mối tương tác (cảm ứng) giữa tâm ta và tâm Phật, Bồ tát (tha lực) sẽ chặt chẽ, do đó tác động mạnh đến người hay hoàn cảnh mình cần nguyện.

Cầu sám hối: Là cầu nguyện cho những lỗi lầm vụng dại của mình đã làm không còn tái diễn nữa, bày tỏ sự hối hận ăn năn, mong sự chứng giám và tha thứ của các đấng thiêng liêng hay cả của những người mà mình đã gây khổ cho họ. Có khi người ta cũng cầu sám hối giúp cho người thân của mình. Nhu cầu sám hối nói lên tiếng nói của lương tâm, của đạo đức và của trí tuệ.

Cầu tiến bộ tâm linh: Là cầu nguyện cho tâm hồn của mình được phát khởi thiện tâm, phát huy được trí tuệ vượt qua nghiệp chướng, ma chướng để sớm thành tựu được mục tiêu giải thoát của mình. Nhu cầu cầu nguyện tâm linh tiến bộ nói lên tinh thần quyết tâm cầu tiến, nói lên ước vọng tìm kiếm chân lý của người Phật tử.

Trong đạo Phật, cầu nguyện còn là một pháp môn tu tập của người Phật tử, nhờ cầu nguyện mà nguyện lực của họ mạnh mẽ, niềm tin tăng trưởng, thiện nghiệp được phát huy, ác nghiệp được tiêu trừ, tâm xu hướng lộ trình giải thoát.

Sự cầu nguyện ban đầu như là biểu hiện của sự lo lắng vị kỷ, nhưng dần dần do bản chất của sự cầu nguyện sẽ nâng cao tinh thần vị tha. Những lời khấn nguyện, niệm hương, bạch Phật, phục nguyện, hồi hướng, trong đạo Phật đều mang tính 2 mặt cho mình và cho chúng sinh. Nghĩa của sự cầu nguyện là nâng cao đời sống tinh thần và củng cố niềm tin cho chính mình và tha nhân.

Xem thêm: đề cương ôn tập toán 9 học kì 2 violet

Bản chất của cầu nguyện trong đạo Phật

Cầu nguyện đóng vai trò không thể thiếu cho bậc xuất gia cũng như Phật tử tại gia. Nó là năng lượng từ trường vô biên giúp cho người hành giả có thể an tâm và yên vui trong đời sống thường nhật. Cầu nguyện trong Phật giáo được xem là sợi dây vô hình có thiết lập tình thân thương giữa người cầu nguyện và người được hướng đến trên tinh thần từ bi và trí tuệ.

Theo quan niệm của đạo Phật, Sư Phụ Thích Trúc Thái Minh giảng giải: “Việc cầu nguyện trong Phật giáo đã có từ ngàn xưa. Trong hệ thống kinh điển Phật giáo rất nhiều bài kinh cầu nguyện. Vì chúng ta cũng tự biết chúng ta rất yếu đuối, rất mong manh. Không phải chúng ta hoàn toàn tự lực được. Không ai vỗ ngực rằng mình tự lực được cả. Trong pháp giới nhân duyên này, chúng ta không thể tự mình hoàn toàn được. Chúng ta sinh ra phải nhờ cha nhờ mẹ, em bé phải bú sữa mẹ, phải được mẹ chăm bẵm mới lớn lên, muốn đi cũng phải dựa vào xe đẩy mới tập đi được. Làm sao bảo mình không nương tựa? Tất cả chúng ta đều phải có sự nương tựa vì chúng ta rất nhỏ bé. Vậy thì trong Phật Pháp sự cầu nguyện là cần thiết, giúp đỡ mặt tinh thần của chúng ta được nâng lên”.

Việc cầu nguyện trong Phật giáo giúp cho tinh thần chúng ta được vững mạnh. Giúp chúng ta thăng tiến hơn trên con đường tu tập, đầy đủ nghị lực, niềm tin vượt qua những chướng ngại.

Trong Đại Tạng kinh Việt Nam, Tương Ưng IV, chương 8, phần Người đất Tây phương hay người đã chết, có đoạn: “Này Thôn trưởng, ông nghĩ thế nào? Ở đây, một người sát sanh, lấy của không cho, sống theo tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, theo tà kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chắp tay đi cùng khắp và nói rằng: “Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sinh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này!” ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, người ấy do nhân cầu khẩn của đại quần chúng ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp tay đi cùng khắp, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này? - Thưa không, bạch Thế Tôn”.

Để trả lời cho câu hỏi đó, trong bài kinh Đức Phật đã lấy ví dụ về tảng đá và dầu để chỉ dạy: Khi ném tảng đá xuống nước và đứng trên bờ cầu khẩn mong cho tảng đá nổi trên mặt nước là điều không thể. Ngược lại, khi đổ dầu xuống nước không thể đứng trên bờ cầu mong cho dầu chìm xuống. Cũng vậy, một người tạo nhiều ác nghiệp khi chết rồi, gia thân quyến thuộc chỉ đứng cầu mong cho họ được siêu thoát thì không có tác dụng. Còn một người có tu tập, làm các việc thiện khi chết rồi, dù đứng đó cầu cho họ đọa địa ngục, họ cũng không đọa lạc.

Đức Phật dạy rằng:

Tự mình, điều ác làm,

Tự mình làm nhiễm ô,

Tự mình không làm ác,

Tự mình làm thanh tịnh,

Tịnh, không tịnh, tự mình,

Xem thêm: trình bày đặc điểm cấu tạo ngoài của thằn lằn thích nghi với đời sống hoàn toàn ở cạn

Không ai thanh tịnh ai”.

(Pháp Cú 165)

Thay vì cầu nguyện một cách thiếu tuệ giác, chúng ta cần phải áp dụng chân lý tứ diệu đế hay còn gọi là tứ thánh đế mà Đức Phật đã giác ngộ với tuệ giác của mình để giải quyết vấn đề một cách sâu sắc và thực tiễn: